Tăng trưởng kinh tế thế giới tăng trưởng chậm do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là các quốc gia tăng cường thúc đầy tiêu dùng nội địa ở các nước có thặng dư vốn, mà đi đầu là Trung Quốc, là tiến tới áp dụng các tỷ lệ
hối đoái do thị trường
xác định. Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi
(G-20) trong cam kết của họ đối với tỷ giá hối đoái do thị trường xác
định. Ưu tiên đó "cần bao gồm cả việc đánh giá các tỷ giá hối đoái và
hành động can thiệp".
Trung Quốc cần nỗ lực thêm để chuyển sang mức tăng trưởng tiêu dùng nội
địa cao hơn và bớt phụ thuộc hơn vào tăng trưởng nhờ vào xuất khẩu. Một
trong những nỗ lực đó bao gồm việc tiến nhanh hơn đến một tỷ giá hối
đoái do thị trường xác định.
Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013
Nhiều thương hiệu tư nhân có giá trăm triệu đô
13/10/2013
Đó là một trong những nội dung được thảo luận tại hội thảo "Định giá doanh nghiệp, thương hiệu và tài sản vô hình trong mua bán sáp nhập (M&A) doanh nghiệp tư nhân" sáng 12/10, tại TP.HCM do Viện Marketing và Quản trị Việt Nam (VMI) tổ chức.
Tại hội thảo, các chuyên gia chỉ ra rằng, những câu chuyện M&A của các thương hiệu Việt nổi tiếng được bán lại cho nhà đầu tư nước ngoài với giá cao bất ngờ.
Tiêu biểu như Phở 24 được Highlands Coffee mua với giá 20 triệu USD, ICP bán 85% cổ phần cho Marico (Tập đoàn Hàng tiêu dùng và dịch vụ của Ấn Độ) với giá trên 60 triệu USD...
Những thương vụ này đã đặt ra nhiều câu hỏi rằng làm thế nào mà những thương hiệu này lại được định giá cao đến thế trong khi tổng giá trị tài sản hữu hình của chúng lại thấp hơn nhiều mức giá đó.
Những nghiên cứu của VMI đã chỉ ra rằng, phần lớn giá trị mà các công ty này nắm giữ được đóng góp từ thương hiệu và tài sản vô hình, hơn là tài sản hữu hình. Tuy nhiên, hiện hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa có được những hiểu biết rõ ràng về việc định giá thương hiệu và các tài sản vô hình.
Giáo sư, Tiến sĩ Adam Bakar - trường Đại học City University của Malaysia chỉ ra rằng, các yếu tố hình thành nên giá trị của một doanh nghiệp gồm có giá trị dồn tích, giá trị hiện tại vốn có và giá trị tiềm năng tương lai. Trong đó, giá trị dồn tích bao gồm lịch sử hoạt động, hình ảnh trong mắt công chúng và danh tiếng, văn hóa làm việc và trình độ quản lý; giá trị hiện tại vốn có bao gồm hoạt đông hiện tại và khả năng tài chính, bảng kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán và giá trị ròng; giá trị tiềm năng trong tương lai bao gồm tiềm năng tăng trưởng, cộng hưởng trong quá trình M&A và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo ông Nguyễn Trung Thẳng, Viện trưởng VMI, thương hiệu có thể coi là tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp, tuy nhiên giá trị của nó thường không được phản ánh đúng trong báo cáo tài chính. Theo ước lượng của Interbrand (tổ chức hàng đầu thế giới về định giá thương hiệu), giá trị của thương hiệu Coca Cola khoảng 65,3 tỷ USD vào năm 1997, song giá trị tài sản vô hình do chính Coca Cola công bố trong báo cáo tài chính chỉ là 3,7 tỷ USD.
Ông Thẳng chỉ ra ba cách tiếp cận để định giá thương hiệu và tài sản vô hình mà các chuyên gia tài chính thường ứng dụng, đó là tiếp cận theo chi phí, tiếp cận theo thu nhập và tiếp cận theo thị trường. Tuy nhiên, việc định giá trong các thương vụ M&A thường ảnh hưởng lớn bởi bối cảnh giao dịch như tình hình kinh tế, mức độ cạnh tranh giữa người mua, kỹ năng đàm phán của chủ doanh nghiệp và động lực của cả người mua lẫn người bán.
Do đó, mức độ thiếu chắc chắn trong việc xác định một cách hợp lý giá trị của tài sản vô hình là rất cao. Vì vậy, ông Thẳng khuyên các doanh nghiệp nên dùng dịch vụ bên ngoài để định giá thương hiệu. Các công ty tư vấn về định giá thương hiệu có nhiều kinh nghiệm đồng thời là tổ chức độc lập thường có kết quả nghiên cứu và định giá được đánh giá cao.
Việc định giá thương hiệu không chỉ có ý nghĩa trong hoạt động M&A mà còn giúp doanh nghiệp nhận định chính xác hơn cần đầu tư vào cái gì để tạo nên tài sản thương hiệu lớn thay vì đơn thuần hoạch định và giám sát ngân sách quảng cáo, khuyến mãi hàng năm.
Theo Báo Hải Quan
Nhiều doanh nghiệp khi M&A có giá hàng chục, hoặc hàng trăm triệu đô phần lớn được đóng góp từ thương hiệu và tài sản vô hình, hơn là tài sản hữu hình.
Đó là một trong những nội dung được thảo luận tại hội thảo "Định giá doanh nghiệp, thương hiệu và tài sản vô hình trong mua bán sáp nhập (M&A) doanh nghiệp tư nhân" sáng 12/10, tại TP.HCM do Viện Marketing và Quản trị Việt Nam (VMI) tổ chức.
Tại hội thảo, các chuyên gia chỉ ra rằng, những câu chuyện M&A của các thương hiệu Việt nổi tiếng được bán lại cho nhà đầu tư nước ngoài với giá cao bất ngờ.
Tiêu biểu như Phở 24 được Highlands Coffee mua với giá 20 triệu USD, ICP bán 85% cổ phần cho Marico (Tập đoàn Hàng tiêu dùng và dịch vụ của Ấn Độ) với giá trên 60 triệu USD...
Những thương vụ này đã đặt ra nhiều câu hỏi rằng làm thế nào mà những thương hiệu này lại được định giá cao đến thế trong khi tổng giá trị tài sản hữu hình của chúng lại thấp hơn nhiều mức giá đó.
![]() |
| Nuôi mộng biến Phở 24 thành thương hiệu đẳng cấp thế giới nhưng cuối cùng ông chủ Lý Quý Trung vẫn quyết định bán thương hiệu này với giá 20 triệu USD. |
Những nghiên cứu của VMI đã chỉ ra rằng, phần lớn giá trị mà các công ty này nắm giữ được đóng góp từ thương hiệu và tài sản vô hình, hơn là tài sản hữu hình. Tuy nhiên, hiện hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa có được những hiểu biết rõ ràng về việc định giá thương hiệu và các tài sản vô hình.
Giáo sư, Tiến sĩ Adam Bakar - trường Đại học City University của Malaysia chỉ ra rằng, các yếu tố hình thành nên giá trị của một doanh nghiệp gồm có giá trị dồn tích, giá trị hiện tại vốn có và giá trị tiềm năng tương lai. Trong đó, giá trị dồn tích bao gồm lịch sử hoạt động, hình ảnh trong mắt công chúng và danh tiếng, văn hóa làm việc và trình độ quản lý; giá trị hiện tại vốn có bao gồm hoạt đông hiện tại và khả năng tài chính, bảng kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán và giá trị ròng; giá trị tiềm năng trong tương lai bao gồm tiềm năng tăng trưởng, cộng hưởng trong quá trình M&A và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo ông Nguyễn Trung Thẳng, Viện trưởng VMI, thương hiệu có thể coi là tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp, tuy nhiên giá trị của nó thường không được phản ánh đúng trong báo cáo tài chính. Theo ước lượng của Interbrand (tổ chức hàng đầu thế giới về định giá thương hiệu), giá trị của thương hiệu Coca Cola khoảng 65,3 tỷ USD vào năm 1997, song giá trị tài sản vô hình do chính Coca Cola công bố trong báo cáo tài chính chỉ là 3,7 tỷ USD.
Ông Thẳng chỉ ra ba cách tiếp cận để định giá thương hiệu và tài sản vô hình mà các chuyên gia tài chính thường ứng dụng, đó là tiếp cận theo chi phí, tiếp cận theo thu nhập và tiếp cận theo thị trường. Tuy nhiên, việc định giá trong các thương vụ M&A thường ảnh hưởng lớn bởi bối cảnh giao dịch như tình hình kinh tế, mức độ cạnh tranh giữa người mua, kỹ năng đàm phán của chủ doanh nghiệp và động lực của cả người mua lẫn người bán.
Do đó, mức độ thiếu chắc chắn trong việc xác định một cách hợp lý giá trị của tài sản vô hình là rất cao. Vì vậy, ông Thẳng khuyên các doanh nghiệp nên dùng dịch vụ bên ngoài để định giá thương hiệu. Các công ty tư vấn về định giá thương hiệu có nhiều kinh nghiệm đồng thời là tổ chức độc lập thường có kết quả nghiên cứu và định giá được đánh giá cao.
Việc định giá thương hiệu không chỉ có ý nghĩa trong hoạt động M&A mà còn giúp doanh nghiệp nhận định chính xác hơn cần đầu tư vào cái gì để tạo nên tài sản thương hiệu lớn thay vì đơn thuần hoạch định và giám sát ngân sách quảng cáo, khuyến mãi hàng năm.
Theo Báo Hải Quan
Nhà nhà tiếp tục găm tiền sau 5 năm khủng hoảng
13/10/2013
Năm năm sau khi ngân hàng đầu tư Lehman Brothers của Mỹ sụp đổ, khơi mào cho một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, làm tan vỡ niềm tin khắp thế giới, các gia đình ở những nước như Mỹ, Nhật, Anh và Đức vẫn nơm nớp lo lắng đối với tiền tài của họ.
Một phân tích về gia cảnh của hãng AP ở mười nền kinh tế lớn nhất cho thấy các gia đình tiếp tục tiêu tiền dè sẻn và đã rút hàng trăm tỉ USD khỏi thị trường chứng khoán, ngưng vay tiền lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ và đổ tiền vào tiết kiệm và trái phiếu chỉ có những khoản lãi ít ỏi, thường thấp hơn so với lạm phát.
"Phá hoại niềm tin thì dễ nhưng xây lại rất trần ai," Ian Bright, kinh tế gia cao cấp của ING, một ngân hàng quốc tế ở Amsterdam, nói. "Thái độ đối với rủi ro luôn luôn lặp lại."
Tăng trưởng cả thế giới yếu có nghĩa là đồng lương ở Mỹ, vốn không theo kịp lạm phát, sẽ tiếp tục tăng chậm. Theo báo cáo về thất nghiệp ở nhiều khu vực châu Âu, tại nhiều nước cao hơn 35% trong giới trẻ, tỷ lệ này sẽ không giảm nhanh. Làn sóng thất nghiệp khác ở người Hoa, Brazil và Ấn trong giới trung lưu đang tăng; con số lên đến hàng trăm triệu.
Dữ liệu của AP phân tích thái độ của người tiêu dùng trong năm năm trước Đại suy thoái bắt đầu từ tháng 12.2007 đến cuối năm 2012. Phân tích tập trung vào 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới - Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Đức, Pháp, Anh, Brazil, Nga, Ý và Ấn - chiếm một nửa dân số thế giới và 65% GDP toàn cầu.
Ở Pháp, Arnaud Reze đã ngưng uống cà phê ở tiệm để tiết kiệm tiền. Nhà Kawabata ở Nhật hiếm khi ăn tiệm. Glen Oakes ở bang Washington lúc trước mỗi năm thường có một chuyến du lịch đắt tiền, như đi Disney World ở Florida. Ông đã ngưng chuyện này cách đây năm năm.
Khắp thế giới, dù ít hay nhiều, tại các nền kinh tế đang bành trướng và thu hẹp, người tiêu dùng trở nên tằn tiện. Có thể nhìn thấy điều đó ở những con đường lớn ở Anh: giờ đây dày đặc các tiệm bán hàng xài rồi và hiệu cầm đồ. Xe hơi ở châu Âu xuống giá đến mức thấp nhất trong vòng hai thập kỷ. Dollar General, một chuỗi với khoảng 10.000 cửa hàng giảm giá ở Mỹ đã có số lời tăng ngoạn mục: gấp đôi trong vòng ba năm qua.
Sau khi điều chỉnh lạm phát, người Mỹ tăng chi tiêu của họ trong năm năm sau khủng hoảng lên bằng ¼ so với trước khủng hoảng, theo PricewaterhouseCoopers. Chi tiêu của người Pháp chỉ hơi nhúc nhích. Ở Anh, chi tiêu đã không tăng chậm mà còn giảm. Người Anh tiêu dùng kém 3% so với năm ngoái.
Thất nghiệp cao có một vai trò nhất định. Thất nghiệp ở châu Âu là 11%. Nhưng các chuyên gia kinh tế cho rằng do hoảng sợ bởi khủng hoảng tài chính, và khủng hoảng nợ công bắt đầu muộn hơn một năm làm cho người dân có khả năng vung tay chi tiêu đã gượm lại.
Reze, 36, là người cuối cùng mà bạn có thể nghĩ là đang cảm thấy sức ép tiết kiệm hơn nữa. Ông có một căn nhà ở Nantes, dồn tiền vào các tài khoản tiết kiệm và cổ phiếu, có một việc làm Nhà nước bảo đảm cho ông 75% mức lương khi về hưu. Nhưng ông sợ rằng lương hưu không bảo đảm. Nên ông không những ngưng uống cà phê quán, ông còn cắt bỏ toàn bộ các buổi ăn trưa ở ngoài với các đồng nghiệp và để dành tiền bằng nhiều cách khác nữa. Ông ước tính mỗi tháng ki cóp được khoảng 400USD, hoặc 10% chi tiêu. "Ba cái chuyện mua sắm thứ này thứ nọ lặt vặt... tôi ngưng hẵn," ông nói.
Ngay cả người giàu cũng đang chi tiêu cẩn thận và để dành nhiều hơn.
Cách đây năm năm, Mike Cockrell, giám đốc tài chính ở Sanderson Farms, một cơ sở chăn nuôi gà lớn ở Mỹ, vừa trả xong tiền mua nhà trả góp ở Laurel, Mississippi. Ông tính dùng khoản tiền phải trả góp hàng tháng trước đó để chi tiêu. Khủng hoảng tài chính ập đến, ông bèn gửi tiền vào tiết kiệm.
1% những hộ giàu nhất nước Mỹ đã tiết kiệm chi tiêu 30%, gấp ba lần hồi năm 2008, theo một báo cáo hồi tháng 7 của hãng nghiên cứu American Express Publishing and Harrison Group.
Thảo Nguyên
Họ nói tiếng khác nhau, sống ở những nước giàu lẫn nghèo, đối diện với thị trường lao động và dịch vụ y tế đáng sợ. Nhưng đụng đến chuyện tiền nong, họ hành động y như nhau: giữ chặt đồng tiền của mình.
Năm năm sau khi ngân hàng đầu tư Lehman Brothers của Mỹ sụp đổ, khơi mào cho một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, làm tan vỡ niềm tin khắp thế giới, các gia đình ở những nước như Mỹ, Nhật, Anh và Đức vẫn nơm nớp lo lắng đối với tiền tài của họ.
Dollar General, một chuỗi với khoảng 10.000 cửa hàng giảm giá ở Mỹ đã
có số lời tăng ngoạn mục: gấp đôi trong vòng ba năm qua. Ảnh: TLCK |
Một phân tích về gia cảnh của hãng AP ở mười nền kinh tế lớn nhất cho thấy các gia đình tiếp tục tiêu tiền dè sẻn và đã rút hàng trăm tỉ USD khỏi thị trường chứng khoán, ngưng vay tiền lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ và đổ tiền vào tiết kiệm và trái phiếu chỉ có những khoản lãi ít ỏi, thường thấp hơn so với lạm phát.
"Phá hoại niềm tin thì dễ nhưng xây lại rất trần ai," Ian Bright, kinh tế gia cao cấp của ING, một ngân hàng quốc tế ở Amsterdam, nói. "Thái độ đối với rủi ro luôn luôn lặp lại."
Tăng trưởng cả thế giới yếu có nghĩa là đồng lương ở Mỹ, vốn không theo kịp lạm phát, sẽ tiếp tục tăng chậm. Theo báo cáo về thất nghiệp ở nhiều khu vực châu Âu, tại nhiều nước cao hơn 35% trong giới trẻ, tỷ lệ này sẽ không giảm nhanh. Làn sóng thất nghiệp khác ở người Hoa, Brazil và Ấn trong giới trung lưu đang tăng; con số lên đến hàng trăm triệu.
Dữ liệu của AP phân tích thái độ của người tiêu dùng trong năm năm trước Đại suy thoái bắt đầu từ tháng 12.2007 đến cuối năm 2012. Phân tích tập trung vào 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới - Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Đức, Pháp, Anh, Brazil, Nga, Ý và Ấn - chiếm một nửa dân số thế giới và 65% GDP toàn cầu.
Ở Pháp, Arnaud Reze đã ngưng uống cà phê ở tiệm để tiết kiệm tiền. Nhà Kawabata ở Nhật hiếm khi ăn tiệm. Glen Oakes ở bang Washington lúc trước mỗi năm thường có một chuyến du lịch đắt tiền, như đi Disney World ở Florida. Ông đã ngưng chuyện này cách đây năm năm.
Khắp thế giới, dù ít hay nhiều, tại các nền kinh tế đang bành trướng và thu hẹp, người tiêu dùng trở nên tằn tiện. Có thể nhìn thấy điều đó ở những con đường lớn ở Anh: giờ đây dày đặc các tiệm bán hàng xài rồi và hiệu cầm đồ. Xe hơi ở châu Âu xuống giá đến mức thấp nhất trong vòng hai thập kỷ. Dollar General, một chuỗi với khoảng 10.000 cửa hàng giảm giá ở Mỹ đã có số lời tăng ngoạn mục: gấp đôi trong vòng ba năm qua.
Sau khi điều chỉnh lạm phát, người Mỹ tăng chi tiêu của họ trong năm năm sau khủng hoảng lên bằng ¼ so với trước khủng hoảng, theo PricewaterhouseCoopers. Chi tiêu của người Pháp chỉ hơi nhúc nhích. Ở Anh, chi tiêu đã không tăng chậm mà còn giảm. Người Anh tiêu dùng kém 3% so với năm ngoái.
Thất nghiệp cao có một vai trò nhất định. Thất nghiệp ở châu Âu là 11%. Nhưng các chuyên gia kinh tế cho rằng do hoảng sợ bởi khủng hoảng tài chính, và khủng hoảng nợ công bắt đầu muộn hơn một năm làm cho người dân có khả năng vung tay chi tiêu đã gượm lại.
Reze, 36, là người cuối cùng mà bạn có thể nghĩ là đang cảm thấy sức ép tiết kiệm hơn nữa. Ông có một căn nhà ở Nantes, dồn tiền vào các tài khoản tiết kiệm và cổ phiếu, có một việc làm Nhà nước bảo đảm cho ông 75% mức lương khi về hưu. Nhưng ông sợ rằng lương hưu không bảo đảm. Nên ông không những ngưng uống cà phê quán, ông còn cắt bỏ toàn bộ các buổi ăn trưa ở ngoài với các đồng nghiệp và để dành tiền bằng nhiều cách khác nữa. Ông ước tính mỗi tháng ki cóp được khoảng 400USD, hoặc 10% chi tiêu. "Ba cái chuyện mua sắm thứ này thứ nọ lặt vặt... tôi ngưng hẵn," ông nói.
Ngay cả người giàu cũng đang chi tiêu cẩn thận và để dành nhiều hơn.
Cách đây năm năm, Mike Cockrell, giám đốc tài chính ở Sanderson Farms, một cơ sở chăn nuôi gà lớn ở Mỹ, vừa trả xong tiền mua nhà trả góp ở Laurel, Mississippi. Ông tính dùng khoản tiền phải trả góp hàng tháng trước đó để chi tiêu. Khủng hoảng tài chính ập đến, ông bèn gửi tiền vào tiết kiệm.
1% những hộ giàu nhất nước Mỹ đã tiết kiệm chi tiêu 30%, gấp ba lần hồi năm 2008, theo một báo cáo hồi tháng 7 của hãng nghiên cứu American Express Publishing and Harrison Group.
Thảo Nguyên
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)

Dollar General, một chuỗi với khoảng 10.000 cửa hàng giảm giá ở Mỹ đã
có số lời tăng ngoạn mục: gấp đôi trong vòng ba năm qua. Ảnh: TLCK