TỔNG QUAN

Kể từ khi bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế đến nay (năm 2014), sau gần 30 năm, Việt Nam đã dần hình thành lớp tỷ phú đầu tiên. Tuy nhiên, lớp tỷ phú này đa số làm giàu dựa trên yếu tố gặp thời là chính. Các sản phẩm của họ làm ra chưa thể gọi là sản phẩm của nền kinh tế tri thức. Chúng ta không phủ nhận công lao và tâm huyết của họ đối với nền kinh tế nước nhà, nhưng đúng là như vậy.

Đa số các tỷ phú Việt Nam giàu lên nhờ sự ngô nghê của nền kinh tế thời quá độ, cả về dân chúng lẫn quản lý nhà nước. Chỉ riêng những đợt sốt nóng của thị trường ngoại tệ, vàng, chứng khoán, lãi suất tiền vay và BĐS đã làm cho họ giàu có một cách vô lý rồi. Bên cạnh đó, một số tỷ phú làm giàu nhờ lũng đoạn thị trường nông sản, hàng tiêu dùng...

Như một hệ quả, số người này giàu lên thì chắc chắn số người khác phải nghèo đi. Đây chính là lý do mà khoảng cách giàu - nghèo ở Việt Nam ngày càng gia tăng, mặc dù GDP bình quân có tăng. 

Một công bố mới đây của một công ty tư vấn mang tên Wealth – X ở Singapore và ngân hàng UBS Thụy Sĩ về việc, Việt Nam là nước đứng thứ 2 trong số các nước khu vực Đông Nam Á có số người siêu giàu tăng mạnh trong vòng 1 năm qua, đã khiến dư luận không khỏi ngạc nhiên. Là bởi, ở một nước có tỷ lệ hộ nghèo vẫn rất cao như Việt Nam thì việc đứng thứ nhì Đông Nam Á về số người siêu giàu chắc chắn sẽ không phải là điều đáng để tự hào.

Trong số các tỷ phú tại Việt Nam, thử thống kê có bao nhiêu tỷ phú thuộc khu vực nông thôn? Tại sao khu vực nông thôn nắm dạ dày của quốc gia lại luôn nghèo khó? Và các sản phẩm họ làm ra có hàm lượng tri thức là bao nhiêu? Thôi, việc này là của các nhà xã hội học, trang web này nhắm tới mục đích khác cơ. Đó là đầu tư cho phát triển bền vững.

Nhìn ra thế giới, các tập đoàn thành công từ thế hệ Sony của Nhật bản, Samsung của Hàn Quốc, Apple của Canada đến Microsoft, Google, FaceBook... đều dựa trên trí tuệ và nỗ lực của bản thân mà phát triển. Và mới đây, khi mà thế giới tưởng như không còn đất trống cho những người mới, thì hiện tượng ARM lại là một minh chứng cho kinh tế tri thức. Chính nhờ ARM tạo nên cuộc cách mạng thiết bị di động chứ không phải là Intel hay AMD. Với ARM, người tiêu dùng đã được dùng smartphone giá rẻ có tính năng cao cấp.

Trong tất cả các ngành kinh tế của Việt Nam, thì ngành công nghệ điện tử và viễn thông có nhiều cơ hội phát triển theo hướng kinh tế tri thức nhất. Nhưng vẫn chưa tận dụng được lợi thế của mình do vẫn còn nằm trong vòng tay của "người mẹ hiền". Ba ông lớn viễn thông VN đều có vốn nhà nước áp đảo, cho thấy vẫn được nhiều sự ưu ái của cơ chế, chưa thực sự chịu áp lực cạnh tranh của kinh tế thị trường. Sắp tới, Nhà nước tiến hành tái cơ cấu các ông lớn viễn thông này, nhưng không biết có thay đổi gì nhiều không?

Một khía cạnh nữa cần quan tâm, đó là đầu tư cho nông nghiệp. Trong khi Việt Nam được thế giới biết tới chủ yếu dựa vào kết quả xuất khẩu của gạo, cà phê, hạt tiêu... thì Việt Nam lại đầu tư rất nhiều nguồn lực vào những lĩnh vực không có thế mạnh như sản xuất ôtô, xe máy... Và, tâm dắc với chiến lược "đi tắt, đón đầu" sai lầm đó. Thử tưởng tượng, nếu tất cả nguồn lực đầu tư vào ôtô, xe máy chuyển vào nông nghiệp, công nghệ thông tin thì Việt Nam đã phát triển đến mức nào.

Kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), các nhà đầu tư muốn thành công phải có kiến thức sâu rộng về đầu tư, nhất là đầu tư quốc tế. Trong tất cả các loại hình đầu tư thì đầu tư cho sản xuất vật chất là quan trọng nhất. Nước Mỹ mạnh nhất thế giới về kinh tế bởi có những sản phẩm mang tình toàn cầu. Trong khi Trung Quốc, đáng nhẽ phải là nước mạnh nhất từ cổ tới kim thì phấn đấu mãi mới lên được thứ nhì.

Tuy nhiên, do trình độ KHCN ngày càng phát triển nên hàng hóa sản xuất ra ngày càng nhiều và đa dạng. Việc này khiến cho cung vượt cầu về hàng hóa trong khi đồng tiền lại được lưu chuyển một cách tối đa bởi các nhà đầu tư. Do vậy, lĩnh vực đầu tư tài chính ngày một phát triển, đôi khi quá nóng dẫn tới những hệ quả không mong muốn. Nếu không hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực đầu tư này, các nhà đầu tư có thể thất bại ngay cả khi hàng hóa của mình chưa hết thời.

Kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm, đa phải trả nhiều giá cho sự ngô nghê của mình. Và mới đây nhất là cơn cảm lạnh của hàng loạt thị trường như chứng khoán, bất động sản, ngân hàng đã kéo cả nền kinh tế lao dốc. Sau những nỗ lực quyết liệt của cả Hệ thống chính trị, tới năm 2014, kinh tế vĩ mô Việt Nam đã tương đối ổn định. Trước tình hình đó, sáng 11/11/2014, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, với 14 chỉ tiêu chủ yếu.

1. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 5,8%.

2. Kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 10%. 

3. Tỷ lệ nhập siêu khoảng 6% kim ngạch xuất khẩu.

4. Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 7%. 

5. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 30% GDP.

6. Tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,7%-2%, riêng các huyện nghèo giảm 4%. 

7. Tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động.

8. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%. 

9. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 52%.

10. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 15,5%. 

11. Số giường bệnh trên một vạn dân (không tính giường trạm y tế xã) đạt 22,5 giường. 

12. Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 85%.

13. Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 80%.

14. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,5%.

Nguyễn Quốc Cường

(Tư vấn độc lập chuyên ngành Marketing)




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét